Phân tích tác phẩm: Ánh trăng - Nguyễn Duy

Thứ sáu - 08/10/2021 07:00
TAKIS hướng dẫn học viên phân tích tác phẩm Ánh trăng - Nguyễn Duy
I. Tác giả

- Nguyễn Duy, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê ở làng Quảng Xá, nay thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.
 
- Năm 1966, Nguyễn Duy gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.

- Sau năm 1975, ông chuyển vào làm báo Văn nghệ giải phóng.

- Từ năm 1977, Nguyễn Duy đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

- Ông còn được trao giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1972 - 1973.

- Ông trở thành gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước và tiếp tục bền bỉ sáng tác.

- Một số tác phẩm: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1978), Đãi cát tìm vàng (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990)...

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

- Bài thơ Ánh trăng được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978, được in trong tập thơ cùng tên.

- Tập thơ Ánh trăng được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

- Phần 1. Ba khổ thơ đầu: Hình ảnh vầng trăng trong quá khứ, ở hiện tại.
 
- Phần 2. Khổ thơ thứ tư: Tình huống gặp lại vầng trăng.

- Phần 3. Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của nhà thơ.

III. Đọc - hiểu văn bản

1. Hình ảnh vầng trăng trong quá khứ và hiện tại

* Khổ 1 và 2: Ánh trăng trong quá khứ

- “Hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh”: dấu mốc thời gian.

- Phép liệt kê tăng cấp: “đồng”, “sông”, “bể” - không gian mở rộng từ quê hương đến đất nước.

- “vầng trăng thành tri kỉ”: khi đất nước có chiến tranh, trong những năm tháng gian khổ phải ở nơi rừng núi, ánh trăng đã trở thành người bạn gắn bó.

- Hình ảnh “trần trụi với thiên nhiên”, “hồn nhiên như cây cỏ” : gợi lối sống đơn giản, mộc mạc và gần gũi với thiên nhiên.

- Từ “ngỡ”: nghĩ vậy, tưởng vậy mà kết quả lại không được như vậy.

- “Cái vầng trăng tình nghĩa”: hình ảnh nhân hóa, khẳng định mối quan hệ gắn bó khăng khít.

* Khổ 3: Ánh trăng ở hiện tại

- “Hồi về thành phố”: khi chiến tranh kết thúc, người lính từ giã núi rừng để trở về thành phố hiện đại.

- “quen ánh điện cửa gương” chỉ cuộc sống đầy đủ tiện nghi, hiện đại.

- Hình ảnh so sánh: “vầng trăng đi qua ngõ/như người dưng qua đường” - sự lãng quên, bội bạc của con người.

2. Tình huống gặp lại vầng trăng

- Tình huống bất ngờ: từ “thình lình”, “đột ngột” - mất điện khiến “phòng buyn-đinh tối om”.
 
- Hành động của nhân vật trữ tình: “vội bật tung cửa sổ” - khẩn trương, mạnh mẽ tìm nguồn ánh sáng.

- Ánh trăng tròn bỗng nhiên xuất hiện: khiến con người bỗng cảm thấy bàng hoàng, xúc động.

3. Cảm xúc và suy ngẫm của nhà thơ

- Tư thế đối mặt “ngửa mặt lên nhìn mặt”: trực tiếp đối mặt

- Cảm xúc khi đối mặt với vầng trăng:

Có cái gì rưng rưng: sự xúc động, nghẹn ngào
Như là đồng là bể/như là sống là rừng: nhớ lại kỉ niệm của những năm tháng chiến tranh, bên đồng đội, bên vầng trăng.
- “Trăng cứ tròn vành vạch”: hình ảnh tả thực miêu tả độ tròn đầy của ánh trăng, hình ảnh biểu tượng thể hiện tình nghĩa trọn vẹn, thủy chung của thiên nhiên.

- Hình ảnh nhân hóa “kể chi người vô tình/ánh trăng im phăng phắc”: thái độ bao dung trước sự vô tình của con người.

- Câu thơ cuối “đủ cho ta giật mình”: sự thức tỉnh của con người.

IV. Tổng kết

- Nội dung: Bài thơ như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị và hiền hậu. Đó cũng chính là lời nhắc nhở về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

- Nghệ thuật: hình ảnh giàu tính biểu cảm, giọng điệu tự nhiên, thể thơ độc đáo…
-----------

Trên đây là hướng dẫn phân tích tác phẩm Ánh trăng - Nguyễn Duy, để đọc thêm nhiều tài liệu ôn thi vào 10 các môn Toán, Văn, Anh, học viên hãy ghé TẠI ĐÂY hoặc click TẠI ĐÂY để đăng ký chương trình cam kết thi đỗ vào 10 tại TAKIS.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc